Hãy cầu nguyện như thể đã nhận được rồi, CN Mùa Thường Niên XXVIII, năm C

Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi qua biên giới giữa hai miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng : “Lạy thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi !”  -- Luca 17:12-13

Dù chỉ có một trong mười người phong trở lại dâng lời ca tụng và tỏ lòng biết ơn cùng với đức tin của anh, cả mười người đều được chữa lành nhờ tin vào Chúa Giêsu. Đức tin ấy được thể hiện khi họ vượt qua thử thách mà Ngài đặt ra. Đức Giêsu không chữa họ ngay khi họ lớn tiếng cầu xin: “Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng con!”

Việc họ đến với Đức Giêsu để xin được chữa lành thể hiện một mức độ đức tin. Việc họ gọi Ngài là “Thầy” thể hiện một mức độ đức tin cao hơn. Nhưng việc họ tất cả đều vâng lời Ngài và đi trình diện với các tư tế — những người sẽ xác nhận rằng họ đã được sạch — việc họ đã làm điều đó trước khi được sạch, việc chỉ khi đang trên đường thực thi điều đó, họ mới được chữa lành, tất cả cho thấy đức tin của họ ở một mức độ cao hơn nữa. Họ tin tưởng Đức Giêsu đến nỗi hành động như thể mình đã được chữa lành, dù việc chữa lành chưa xảy ra.

Đức tin của chúng ta cũng phải như thế. Khi chúng ta cầu xin một điều tốt mà chưa được, ít nhất là lúc ban đầu, Đức Giêsu nói với chúng ta: “Thầy nói với anh em : tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc 11,24). Nói cách khác, hãy cầu nguyện như thể chúng ta đã nhận được rồi. Hãy tạ ơn Thiên Chúa ngay cả trước khi nhận được điều ấy. Đó chính là điều Mẹ Maria đã làm tại tiệc cưới Cana, khi Mẹ đáp lại lời từ chối có vẻ cứng rắn của Đức Giêsu bằng cách nói với những người giúp việc: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, với lòng tin tưởng rằng Ngài sẽ hành động đúng đắn, ngay cả trước khi Ngài thực sự làm điều đó.

Tại sao? Không phải vì chúng ta đang tự lừa mình, như một số nhà tâm lý học nói, và dĩ nhiên không phải vì chúng ta có thể thao túng Thiên Chúa, mà vì chúng ta có thể chắc chắn rằng, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành và yêu thương, vô cùng khôn ngoan và quyền năng, nên chúng ta sẽ nhận được điều mình xin nếu điều đó thực sự tốt cho ta, như chúng ta nghĩ.

Chúng ta có thể tin tưởng trước rằng điều đó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có được đức tin — thứ đức tin thật dễ lý giải nhưng lại khó để thực hành. Dễ lý giải, bởi vì nếu Thiên Chúa thực sự là Thiên Chúa, nếu Ngài vô cùng yêu thương, khôn ngoan và quyền năng, thì mọi sự, kể cả điều xấu, hiên Chúa — Đấng vô cùng yêu thương, khôn ngoan và quyền năng — thì mọi sự, kể cả những điều xấu, cuối cùng cũng sẽ góp phần mang lại điều tốt nhất cho chúng ta. Nhưng thật khó để tin điều đó; đó là một thử thách của đức tin. Chúng ta được mời gọi trở nên như mười người phong, những người hành động như thể mình đã được Đức Giêsu chữa lành và đi trình diện với các tư tế.

Tất nhiên, chúng ta có thể sai về điều gì là tốt nhất cho mình, vì tư tưởng của chúng ta có thể sai lầm. Nhưng Thiên Chúa thì không thể sai lầm. Chúng ta có thể sai lầm về điều tốt cho mình, còn Chúa, thì không bao giờ sai. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài -- CN thứ XXIX Mùa Thường niên, năm C

Bài trích sách Xuất hành (17:8-13)

Hồi đó, quân A-ma-lếch đến đánh Ít-ra-en tại Rơ-phi-đim. Ông Mô-sê bảo ông Giô-suê : “Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh A-ma-lếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa.” Ông Giô-suê làm như ông Mô-sê đã bảo : ông đã giao chiến với A-ma-lếch, còn các ông Mô-sê, A-ha-ron và Khua thì lên đỉnh đồi. Khi nào ông Mô-sê giơ tay lên, thì dân Ít-ra-en thắng thế ; còn khi ông hạ tay xuống, thì A-ma-lếch thắng thế. Nhưng ông Mô-sê mỏi tay, nên người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông A-ha-ron và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên. Nhờ vậy, tay ông Mô-sê cứ giơ lên được mãi, cho đến khi mặt trời lặn. Ông Giô-suê đã dùng lưỡi gươm đánh bại A-ma-lếch và dân của ông ta.

Vậy ý nghĩa của câu chuyện này là gì? Câu chuyện ở đây không là về quyền năng kỳ diệu trong đôi tay của Môsê để giành chiến thắng miễn là ông giữ chúng giơ cao, bởi vì không có sức mạnh nào trong đôi tay ấy, mà chỉ có quyền năng của Thiên Chúa, Đấng đã tạm thời ban cho chúng sức mạnh.

Điều chủ yếu ở đây là khi Thiên Chúa thực hiện phép lạ, Ngài đôi khi muốn chúng ta cộng tác với Ngài — thật sự cùng làm việc với Ngài; Ngài tôn vinh những người phụng sự mình. Thiên Chúa đã không làm điều đó mà không dùng đến Môsê, mà chỉ làm với Môsê. Môsê phải làm phần việc của mình — giữ tay mình giơ lên.

Bài học thứ hai là: không ai trong chúng ta có thể làm được nhiều điều khi chỉ có một mình. Chúng ta hữu hạn. Nỗ lực của chúng ta cũng hữu hạn. Môsê không thể tự mình hoàn tất công việc của Thiên Chúa; ông không thể giữ tay mình giơ lên suốt cả ngày. Chúng ta cần đến nhau.

Vì vậy, Thiên Chúa ban cho chúng ta bạn bè. Điểm yếu của mỗi người — điều khiến ta cần bạn hữu — thật ra lại là một sức mạnh; “dấu trừ” ấy trở thành “dấu cộng”, và là một phúc lành. Bởi vì tình bạn chính là một sức mạnh và một ân phúc lớn lao. Chúng ta cần người khác không chỉ để hoàn thành công việc mà ta không thể làm một mình, mà còn cần họ cho chính họ — không chỉ vì công việc, mà vì tình bạn.

Chúng ta cần tình bạn của người khác hơn cả sự giúp đỡ của họ trong công việc. Nhu cầu được cộng tác chỉ là một phần của nhu cầu lớn hơn: được sống trong tình bạn. Tình bạn là phép thử của lòng khiêm nhường. Satan không có bạn bè, bởi kẻ kiêu ngạo thì oán ghét việc phải lệ thuộc vào người khác. Người khiêm nhường thì không. Kinh Thánh nói Môsê vĩ đại vì ông khiêm nhường: “Môsê là người rất khiêm nhường, hơn bất cứ ai trên mặt đất” (Ds 12:3).

Hiền lành và khiêm nhường là sức mạnh, vì chúng mở lòng ta ra với người khác và với sự trợ giúp của họ. Và “người khác” ấy bao gồm cả những kẻ thấp hơn lẫn cao hơn ta.
Aharon và Khua kém Môsê về nhiều mặt — Môsê là vị ngôn sứ vĩ đại nhất — nhưng vào ngày hôm đó, Môsê phụ thuộc vào họ, nhiều như họ phụ thuộc vào ông. -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year C

Chúa Nhật thứ XXVIII Mùa Thường niên, năm C

Ông Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua nước A-ram, mắc bệnh phong hủi. Vậy ông xuống dìm mình bảy lần trong sông Gio-đan, theo lời ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa. Da thịt ông lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ. Ông đã được sạch. -- 2 V 5:14

Bạn còn nhớ Êlisa là ai không? Điều này rất quan trọng để hiểu những gì đang diễn ra. Êlisa là người kế vị của ngôn sứ Êlia. Và nếu bạn nhớ, sau khi Êlia được cỗ xe lửa cất lên trời, thì người kế vị ông là Êlisa được ban cho gấp đôi thần khí của ông.

Điều đó có nghĩa là Êlisa thực sự mạnh mẽ hơn Êlia, người đi trước ông, và ông làm nhiều phép lạ lớn lao hơn Êlia. Vì thế, trong Cựu Ước, trong toàn bộ trình tự của lịch sử cứu độ, Êlisa — vị ngôn sứ đã chữa lành Naaman — được xem, theo một nghĩa nào đó, là người làm phép lạ vĩ đại nhất trong Cựu Ước. Nếu bạn muốn có một ví dụ về điều này, thì sau đó, trong sách Các Vua quyển thứ hai, chương 13, sau khi Êlisa qua đời và được chôn cất, có người bị ném vào mộ của ông, và khi chạm vào xương ông, người ấy liền sống lại. Đó là mức độ thánh thiện và quyền năng của Êlisa.

Giờ đây, lý do tất cả điều này quan trọng là vì nếu bạn nhìn sang Tân Ước, bạn sẽ nhớ rằng trong các sách Tin Mừng, Đức Giêsu gọi Gioan Tẩy Giả là Êlia và Đức Giêsu lại là người kế vị Gioan Tẩy Giả. Cũng như Êlia là người đi trước Êlisa, thì Gioan Tẩy Giả là người đi trước Đức Giêsu. Vì vậy, nếu Gioan Tẩy Giả là Êlia mới, thì Đức Giêsu là Êlisa mới. Nhưng Ngài không chỉ là một Êlisa mới — Ngài còn vĩ đại hơn Êlisa.

Trong khi Êlisa chỉ chữa lành một người phong cùi trong Cựu Ước, thì Đức Giêsu, Êlisa mới, đã làm gì? Ngài chữa lành mười người phong cùi cùng một lúc, và họ không cần phải xuống sông Giođan tắm bảy lần. Ngài làm điều đó tức khắc. Tất cả những gì họ phải làm là vâng lời Ngài, lên đường đến Đền Thờ, và họ đều được sạch.

Câu chuyện này cho thấy hai điều về Đức Giêsu, và vì thế bài đọc Cựu Ước hôm nay kết hợp thật tuyệt vời với bài Tin Mừng. Thứ nhất, Đức Giêsu là Êlisa mới và cao cả hơn. Ngài làm những phép lạ lớn gấp mười lần — theo nghĩa đen — so với các phép lạ trong Cựu Ước. Nhưng hơn thế nữa, thứ hai, Ngài còn là Thiên Chúa Cứu Độ. Hãy suy nghĩ xem: trong Cựu Ước, người ta nói gì? Ai có thể chữa lành bệnh phong cách trực tiếp? Chỉ có Thiên Chúa, đúng không? “Há ta là Thiên Chúa mà có thể chữa người này khỏi bệnh phong sao?”

Thế thì Đức Giêsu đã làm gì trong Tân Ước? Không giống Êlisa, Ngài không cần sai người đó xuống sông tắm hay làm bất cứ nghi thức nào. Đức Giêsu chữa lành trực tiếp và tức thì. Và vì thế, ở đây có một điều — chỉ là một gợi ý thôi — một gợi ý về việc mặc khải thần tính của Đức Giêsu.

Nếu bạn biết Cựu Ước, bạn biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể chữa lành bệnh phong, thì câu hỏi được đặt ra là: Đức Giêsu, Đấng chữa lành mười người phong cùng một lúc, là ai? Và câu trả lời được tỏ lộ khi người phong trở lại, phủ phục trước mặt Ngài, và dâng lời tạ ơn vì điều Ngài đã làm. -- Dr. Brant Pitre

Hai con đường, hai hướng đi -- Chúa nhật thứ XXVI Mùa Thường niên, năm C

Con đã nhận phần phước của con rồi ; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. -- Luca 16:19-31

Điểm then chốt nằm ở câu cuối cùng. Nếu bạn không muốn ăn năn sám hối và tin vào Chúa, bởi vì điều đó có nghĩa là ta phải thay đổi lối sống tội lỗi của mình; nếu bạn quá cứng lòng và ích kỷ đến nỗi không chịu lắng nghe những mạc khải khác của Thiên Chúa, đặc biệt là Môsê và tất cả các ngôn sứ – những người đều nói cùng một điều (và ta có thể thêm vào đó một ngôn sứ khác trong chúng ta: chính là lương tâm sâu thẳm nhất của minh) – thì bạn cũng sẽ không chịu nghe ngay cả Đấng đã thực sự từ cõi chết sống lại. Đấng đang kể dụ ngôn này chính là Đấng mà dụ ngôn muốn nói đến; chính Chúa Giêsu sẽ từ cõi chết sống lại, nhưng Ngài vẫn bị phớt lờ, từ chối, và không vâng phục. 

 Câu cuối đó đặt ra câu hỏi: Sao ta lại có thể ngu dại đến thế? Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ, nhưng một số người chứng kiến vẫn không tin Ngài. Thậm chí có những người Pharisêu còn tố cáo Ngài dùng quyền lực ma quỷ để làm phép lạ. Chưa từng có ai làm nhiều phép lạ như thế, và cũng chưa từng có ai từ cõi chết sống lại; nhưng Chúa Giêsu đã làm, vậy mà người ta vẫn không tin vào Ngài.

Thánh Phaolô nói trong thư của ngài là vẫn còn năm trăm người ở Giêrusalem đã thấy Đức Giêsu phục sinh, nên bất cứ ai nghi ngờ Người thực sự đã sống lại có thể đến đó để phỏng vấn họ (1 Cr 15,6). Đó là những nhân chứng tận mắt nhìn thấy Chúa Giêsu phục sinh, và họ chẳng được lợi gì khi nói dối, trái lại họ mất tất cả khi tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô giữa một nền văn hóa sợ Ngài, hận thù và khước từ Ngài. Điều đó đúng cả với giới cầm quyền Rôma lẫn những nhà lãnh đạo Do thái giáo.

Với bằng chứng cụ thể và mạnh mẽ như thế, tại sao người ta vẫn không tin? Và bằng chứng ấy ngày nay ai cũng biết, vậy tại sao nhiều người vẫn từ chối tin?

Câu trả lời rõ ràng không phải vì thiếu bằng chứng. Câu trả lời là: họ không muốn tin. Vấn đề không phải là có xung đột giữa lý trí và đức tin, hay giữa khoa học và tôn giáo. “Cuộc chiến” đó hoàn toàn là hư cấu. Vì không có nạn nhân chiến tranh nào cả. Trong suốt lịch sử nhân loại, chưa có một tín điều nào của Kitô giáo bị bác bỏ bởi một phát minh khoa học nào. Vậy tại sao sách giáo khoa vẫn nói về “cuộc chiến” giả tạo ấy như thể nó là chìa khóa của lịch sử hiện đại? Tại sao những kẻ không tin lại không nhìn vào bằng chứng?

Bởi vì họ không muốn vâng phục sự thật. Sự thật đòi hỏi chúng ta đáp trả. Nếu Đức Giêsu thực sự đã sống lại từ cõi chết, thì Ngài chính là Thiên Chúa và có thẩm quyền tuyệt đối trên đời sống chúng ta – toàn bộ đời sống, kể cả ba thứ mà chúng ta tôn thờ như thần linh: sắc, tiền, tài – tức là cái gọi là “tự chủ”, hay tự do muốn làm gì thì làm với đời mình, như thể chúng ta có quyền trên Thiên Chúa thay vì Thiên Chúa có quyền trên chúng ta.

Đó chính là câu trả lời Chúa Giêsu đưa ra ở cuối dụ ngôn người phú hộ và anh Ladarô nghèo khó: “Nếu họ không nghe Môsê và các ngôn sứ, thì dù có ai từ cõi chết sống lại, họ cũng chẳng tin đâu.”

Tất cả các ngôn sứ của Thiên Chúa, bắt đầu từ Môsê, xuyên suốt Cựu Ước và kết thúc nơi Đức Giêsu, đều cảnh cáo chúng ta cùng một điều: họ không cho phép ta tự phong mình làm Chúa, làm chủ đời mình; không cho ta lặp lại tội của Ađam và Evà trong vườn Địa Đàng, tức là bất tuân thánh ý Thiên Chúa vì nghi ngờ Ngài – nghi ngờ quyền năng Ngài thi hành luật, nghi ngờ sự khôn ngoan của Ngài biết điều gì thực sự tốt nhất cho ta, và nhất là nghi ngờ tình yêu vô vị lợi của Ngài khi đòi hỏi ta vâng phục luật Ngài, như thể việc vâng phục đó chỉ để ích lợi cho Ngài chứ không phải cho chúng ta, như thể Ngài là một ông chủ nô lệ chứ không phải là một người Cha đầy yêu thương.

Ngày nay, ít nhiều thì trong tiềm thức, ta vẫn nghĩ theo cách đó; ta bị lừa bởi quảng cáo khéo léo của ma quỷ rằng sự thánh thiện là gánh nặng, còn tội lỗi mới vui, rằng các thánh là kẻ yếu đuối.

Hãy thật sự tự do. Hãy tự suy nghĩ. Đừng bị lừa bởi quảng cáo cổ xưa nhất mà ma quỷ đã phát minh trong Vườn Địa Đàng. Đừng tin vào lòng tham, dục vọng, và kiêu ngạo của chính mình. Hãy tin vào thánh ý Thiên Chúa. Sau cùng, ai mới thật sự là Cha của bạn? Bạn cầu nguyện “Lạy Cha chúng con” cùng với ai? Chính Ngài là Đấng đã trao nộp Mình và Máu Con Một Ngài cho bạn, để cứu độ bạn.

Khi còn sống ở đời này, thực tế dường như là bằng chứng thiên về quảng cáo của ma quỷ, vì chẳng có tỉ lệ gì giữa sự đạo đức và sự giàu có. Dụ ngôn của Chúa Giêsu rất thực tế: trong đời này, người hiền lành thường như thua thiệt giống Ladarô, còn kẻ ác thì lại như thắng thế giống người phú hộ ích kỷ. Nhưng sự bất công đó chỉ là tạm thời; còn công lý của đời sau thì vĩnh cửu.

Nhưng ngay trong đời này cũng có quá nhiều bằng chứng cho thấy quảng cáo của ma quỷ là dối trá. Những kẻ giàu có, nổi tiếng và quyền lực thường tự sát nhiều hơn những người nghèo. Các thánh vĩ đại thì hạnh phúc hơn những tội nhân lớn. Hãy gặp gỡ giới tinh hoa Hollywood, hay những kẻ cầm đầu các tập đoàn buôn ma túy, buôn người. Rồi hãy đến thăm các Nữ tu Thừa sai Bác ái của Mẹ Têrêsa. Hãy nhìn bằng chứng. 

Hãy là người sống theo thực tế. Hãy thực dụng. Hãy kiểm chứng các “quảng cáo”. Một bên, đây là lối sống bạn có thể đạt được nếu bạn đủ khôn khéo để thỏa mãn lòng tham, dục vọng, và kiêu ngạo của mình. Còn bên kia, đây là Đức Giêsu và các thánh của Người, những người sống tinh thần siêu thoát khỏi lòng tham và của cải, ngay cả khi họ giàu có; những người sống trong tình yêu chứ không phải dục vọng; những người sống trong khiêm nhường vui tươi, quên mình, chứ không phải trong kiêu căng, tự đề cao bản thân. Hai lối sống, hai con đường, hai hướng đi. Mà mục đích của con đường là đưa bạn đến một nơi nào đó. Vậy hai con đường này đưa đến đâu? Như Chúa Giêsu nói trong dụ ngôn, có một vực thẳm lớn ngăn cách giữa hai đích đến. Bạn đang đi trên con đường nào? Nó sẽ đưa bạn về đâu? -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Tìm kiếm kho tàng trên trời -- Chúa nhật thứ XXV Mùa Thường niên năm C

Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được (Luca 16:1-13).

Bạn có quản lý giỏi kho tàng của bạn trên trời không? Và tận lực làm giàu kho tàng đó không?

“Ở đây, Chúa Giê-su dạy chúng ta rằng của cải vật chất – nhìn từ cõi đời đời, không có chút gì quan trọng cả ngoài việc được dùng như một “nơi thử nghiệm.” Việc quản lý cách trung tín với của cải vật chất — bao gồm sự rộng lượng đối với người nghèo — chiếm được cho chúng ta sự ưu ái của Chúa và nhận được sự chúc phúc của cõi đời đời. Và ngược lại, việc sử dụng của cải vật chất để tìm sự dễ dãi cho cuộc sống này, làm tổn hại đến sự tiến triển của đời sống tâm linh. ‘Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.’ Nếu sự giàu có, niềm vui hay quyền lực trong cuộc sống này là thứ bạn đang theo đuổi, thì bạn đã theo nhầm tôn giáo rồi!” – Dr. John Bergsma

-----

“Đây là những gì thánh Augustinô đã nói:

‘Tại sao Chúa Giêsu Kitô trình bày dụ ngôn này cho chúng ta? Chắc chắn Ngài không tán thành trò gian lận của người đầy tớ lừa chủ, ăn trộm từ chủ, và không bù đặp lại từ túi của chính mình.’

Hãy tạm ngưng ở đây. Lưu ý, thánh Augustinô hiểu rõ sự bất công về mặt kinh tế trong dụ ngôn. Ngài nhận ra rằng người quản lý này đang ăn cắp của chủ của mình, thay đổi sổ nợ. Augustine tiếp tục:

‘Hơn thế nữa, anh ta còn ăn cắp vặt nữa. Anh ta đã khiến người chủ của mình mất mát thêm nữa để chuẩn bị cho bản thân một tổ ấm nhỏ yên tĩnh và an ninh khi anh ta mất việc. Tại sao Chúa lại đặt điều này trước mắt chúng ta? Không phải vì người đầy tớ đó [giỏi tài] lừa dối mà bởi vì anh ta đã biết lo liệu trước cho tương lai. Khi ngay cả một kẻ gian lận cũng được khen ngợi về sự khéo léo, thì những Kitô hữu không có gì lưu trữ cho mình phải đỏ mặt. Chúa còn nói, ’Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.’ Họ lừa đảo để đảm bảo tương lai của họ. Người quản gia đó đã tự bảo hiểm kiếp sống nào cho bản thân? ...Anh ta đang tự bảo đảm cho mình một cuộc sống mà sẽ có ngày kết thúc. Bạn sẽ không tìm cách bảo đảm cuộc sống vĩnh cửu cho mình sao?’

Đó là điểm quan trọng. Vì vậy, hãy lưu ý rằng những gì thánh Augustinô nói ở đây là người đầy tớ không được khen ngợi vì sự gian ác của anh ta, anh ta được khen ngợi vì tầm nhìn xa của mình. Điều Chúa Giêsu đang nói là nếu mọi người trên thế giới này đi đến những biện pháp cực đoan để nghĩ đến việc chu cấp cho tương lai của bản thân, thậm chí đến mức ăn cắp, thì các Kitô hữu, cần có những biện pháp cực đoan đến mức nào để chuẩn bị và bảo đảm cho sự sống đời đời của chúng ta, để chúng ta được chào đón vào chốn ở vĩnh cửu, vào vương quốc thiên đàng?

... Bạn đã gửi những khoản tiền nào vào tài khoản ngân hàng trên thiên đàng? Bạn đã nghĩ bao nhiêu về tương lai vĩnh cửu của mình và bạn đang làm gì với của cải thiêng liêng được giao phó cho bạn? Đó là ý của dụ ngôn này. Vì vậy, hình ảnh của người quản lý bất công này là một ấn tượng đáng nhớ để chúng ta biết thức tỉnh và thực sự suy nghĩ đắn đó, không để cho “con cái đời này” thông minh hơn về tương lai trần thế hơn chúng ta là môn đồ của Chúa Giêsu.” – Dr. Brant Pitre

Dùng của cải để có được con người: Chúa Nhật thứ XXV Mùa Thường niên năm C

Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu.

Đây có lẽ là giáo huấn then chốt của cả đoạn Tin Mừng này. Thế gian khuyến khích thái độ dùng người để đạt được của cải. Đức Giêsu thì đảo ngược: hãy dùng của cải để có được con người. Nếu việc tiêu tiền và chia sẻ của cải có thể mở lòng người ta đến tình bạn với Hội Thánh và sau cùng là với chính Đức Kitô, thì hãy tiêu tiền, hãy chia sẻ.

Tôn giáo đa thần trong thế giới cổ thường mang tính “nửa ma thuật” để thao túng cõi thiêng (cõi của “các thần”) nhằm có được của cải vật chất. Kitô giáo thì hoàn toàn ngược lại: đó là tôn giáo mà ta hy sinh của cải vật chất để đạt được sự giàu có trong nước trời. Đó cũng là lý do vì sao “thần học phồn vinh” (health and wealth Gospel) là một sự lệch lạc. Thờ phượng Chúa, đọc kinh cầu nguyện để có đời sống an nhàn, sung túc là quay về với ngoại giáo, coi vật chất quan trọng hơn sự giàu có ân sủng. Nó không dẫn đến sự hoán cải thật, bởi chừng nào Đức Giêsu vẫn chỉ là phương tiện để đạt đến mục đích chứ không phải là chính mục đích, thì người đó chưa thực sự là Kitô hữu.

“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; còn ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải gian dối, thì ai sẽ giao phó cho anh em của cải chân thật? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ giao cho anh em của cải dành riêng cho anh em?”

Việc nhỏ” thường chẳng nhỏ chút nào vì hậu quả có thể rất lớn. Nhiều năm trước, con tàu thăm dò khí hậu sao Hỏa trị giá 136 triệu đô-la (Mars Climate Orbiter) đã bị mất ngay trong chuyến bay đầu tiên vì sự cố kỹ thuật. Nguyên nhân? Nhà thầu Lockheed Martin đã chế tạo thiết bị dùng đơn vị đo lường Anh, trong khi NASA vận hành chỉ bằng hệ mét. Một chi tiết nhỏ — inch so với centimet — đã gây hậu quả to lớn về vật chất, và cũng thế trong đời sống thiêng liêng. Thánh Giusemaría Escrivá từng nói: ngài có thể nhận biết tình trạng linh hồn của một người chỉ bằng cách nhìn bàn làm việc hoặc tủ quần áo của họ. Nội tâm con người được phản ánh nơi những hành động nhỏ nhất. 

Đức Giêsu dạy ở đây rằng của cải vật chất — theo viễn cảnh vĩnh cửu thì chẳng có mấy giá trị — chính là “trường thử thách.” Việc chúng ta trung thành trong quản lý của cải vật chất — bao gồm cả lòng quảng đại với người nghèo — làm đẹp lòng Thiên Chúa và mang lại phúc lành thiêng liêng. Ngược lại, việc hưởng thụ ích kỷ của cải vật chất sẽ làm hại đời sống thiêng liêng.

“Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ: hoặc nó sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của.”

Người Kitô hữu muốn theo Đức Kitô nhưng vẫn cố gắng đạt cho được “giấc mơ được giàu có” hay “cuộc sống sung túc” thì sẽ chỉ tự đẩy mình vào thất vọng. Nếu mục tiêu của bạn trong đời này là của cải, khoái lạc hay quyền lực, thì bạn đã chọn sai tôn giáo!

Thật đáng buồn, chẳng hạn, khi có những Kitô hữu từng dấn thân làm công tác truyền giáo lúc trẻ, rồi đến trung niên lại cay đắng hoặc bất mãn khi nhận ra mình không có sự giàu sang hay tiện nghi như bạn bè cùng lứa đã đi vào thương trường ngay từ khi tốt nghiệp trung học hay đại học. Thất vọng sẽ xuất hiện khi Kitô hữu đánh mất ao ước lấy Đức Kitô làm trọng tâm của đời mình và bắt đầu khao khát những thú vui hay sự nghiệp xem ra ngoài tầm với hoặc không phù hợp với ơn gọi của đời mình. Cách duy nhất để chữa trị sự thất vọng này là ăn năn sám hối: nhớ lại mình đang phục vụ ai và vì sao, rồi tái cam kết phục vụ Chúa với trọn cả đời mình.

Lễ Suy Tôn Thánh Giá: Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống

Lễ Suy Tôn Thánh Giá: Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống (Dân số 21:4b-9)   

Trong cái nhìn của Kitô giáo, những khó khăn trong cuộc hành trình nơi hoang địa – vốn luôn cám dỗ dân Israel phạm tội – trở thành một dụ ngôn cho đời sống thiêng liêng: chúng ta trên còn đường về trời. Chúng ta biết chắc chắn chúng ta sẽ đi đến nơi, nhưng chúng ta vẫn đối diện với nhiều khó khăn và cám dỗ trên con đường hành trình. Gương xấu của dân Israel mang lại nhiều bài học cảnh tỉnh, những lời cảnh báo chống lại sự bất trung hay thiếu kiên trì trong cuộc chiến rèn luyện thân xác chúng ta.

Tân Ước nhiều lần ám chỉ đến các biến cố trong sách Dân Số. Trong Gioan 6, bài diễn từ về Bánh Hằng Sống, dân chúng “kêu trách” Đức Giêsu, gợi lại cuộc hành trình nơi hoang địa của Israel. Các cuộc nổi loạn tại Massa và Meribah, được nhắc trong Thánh vịnh 95, cũng được nhắc đến ở nhiều nơi khác nhau. Tin Mừng của Thánh lễ hôm này cũng đề cập đến sự kiện trong sách Dân số.
Xét riêng bài đọc hôm nay, ta thấy tội chủ yếu của dân Israel là vô ơn. Dù họ đã được giải thoát khỏi kiếp nô lệ ở Ai Cập và đang được Chúa dưỡng nuôi trong sa mạc trên đường đến miền đất tuyệt vời, họ vẫn than trách về những khó khăn hiện tại: hành trình vất vả, manna thì đơn điệu. Người Kitô hữu chúng ta cũng vậy: dù đã có các bí tích và niềm hy vọng lớn lao được chia sẻ sự sống đời đời với Thiên Chúa, ta vẫn dễ buông theo thói phàn nàn vì những khó chịu trước mắt: tôi cần nhiều tiền hơn, sức khỏe tốt hơn, một hoàn cảnh chính trị khác, v.v. Tất cả những điều này đều bắt nguồn từ việc thiếu cái nhìn toàn diện, không thấy được bức tranh lớn và sự nhân lành của Thiên Chúa đối với ta từ viễn tượng vĩnh cửu. 

Hình phạt mà Thiên Chúa giáng xuống là sai những rắn lửa đến giữa họ: saraph nghĩa là “cháy bỏng,” giống như các thiên thần rực lửa vây quanh Thiên Chúa và hát ngợi khen Ngài, tức các seraphim. Ta không biết chắc vì sao chúng được gọi là saraph—có lẽ vì vết cắn của chúng bỏng rát, hoặc có lẽ do màu sắc. Dù thế nào đi nữa, chúng nhắc nhớ ta về con rắn trong Vườn Địa Đàng và sức mạnh của sự dữ. Khi ta than trách, ta đánh mất sự bảo vệ của Thiên Chúa và phơi bày mình trước quyền lực của ác thần. 

Dân đã ăn năn, và ông Môsê làm một con rắn bằng đồng treo trên cột, để ai nhìn lên đó thì được chữa lành. Đồng là kim loại sáng lấp lánh, có thể trông giống như ngọn lửa khi ánh mặt trời chiếu vào. Dân nhìn lên hình ảnh chính sự khốn khổ của mình, và hành động ấy lại trở thành ơn cứu độ cho họ. Chúng ta sẽ bàn thêm về nghịch lý này trong phần chú giải Tin Mừng. 

Con rắn đồng mà Môsê làm sau này lại trở thành đối tượng của sự thờ ngẫu tượng và được nhắc đến trong sách Các Vua quyển thứ 2 chương 18:4. -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Mass Readings for Solemnities and Feasts

Khiêm nhường để quên mình trong tình yêu: Chúa Nhật thứ XXII Mùa Thường niên, năm C

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (14:1;7-14)

Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa : họ cố dò xét Người.

Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

Rồi Đức Giê-su nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.”

-------------

Có phải Chúa Giêsu có đang đưa ra một lời khuyên về cách leo cầu thang danh vọng trong xã hội không? Đây là lời khuyên hay, nhưng tại sao Người lại làm như vậy? Tại sao Người lại khuyến khích sự leo cao trong xã hội? Đó là một hình thức của tính ích kỷ tự cao, mà Chúa Giêsu thì không đề cao cái tôi—Người đề cao sự khiêm nhường.

... Người Pharisêu đã mời Chúa có lẽ là một kẻ đầy kiêu ngạo và tự cao, một kẻ duy luật, giống như người Pharisêu trong dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Vậy Chúa Giêsu đang làm gì ở đây? Người hạ mình xuống tận mức của người Pharisêu ấy và chỉ ra rằng ngay cả trên cái mức thấp kém, vị kỷ, toan tính và ích kỷ đó, thì sự khiêm nhường vẫn nâng con người lên, còn kiêu ngạo thì dẫn đến sụp đổ.

Vậy thực sự có bốn cấp độ khôn ngoan trong câu chuyện này.

  • Thấp nhất là người Pharisêu ngu dại, kẻ tự cao phô bày lòng mình bằng cách chọn chỗ cao nhất.
  • Kế đến là người Pharisêu khôn khéo, toan tính, cũng đầy tự cao, nhưng che giấu lòng mình, giả vờ khiêm nhường chỉ để được phần thưởng lớn hơn và chỗ cao hơn ở đời này.
  • Thứ ba là người Pharisêu còn khôn khéo và toan tính hơn, cũng giả vờ khiêm nhường, nhưng không phải để được thưởng ở đời này, mà để được thưởng ở đời sau. Điều đó tốt hơn nhưng chưa phải tốt nhất; khôn ngoan hơn nhưng chưa phải khôn ngoan nhất.

- Cấp độ thấp nhất là làm điều sai (ích kỷ) vì lý do sai (ích kỷ).
- Cấp độ hai là làm điều đúng (vị tha) nhưng vì lý do sai (ích kỷ).
- Cấp độ ba cũng là làm điều đúng vì lý do sai, nhưng ở đây cái lý do sai là ích kỷ, không phải trong đời này mà trong đời sau.
- Và cấp độ bốn là làm điều đúng vì lý do đúng.

Thiên Chúa hiểu chúng ta đang ở đâu và muốn đưa tất cả chúng ta tiến lên, thường là từng bước một. Người muốn đưa ta đến mức cao nhất, vì Người thật sự yêu thương ta và muốn ta hưởng niềm vui cao cả nhất, vốn chỉ có trên mức cao nhất đó. Nếu đó là điều ta thực sự tìm kiếm, Người hứa rằng ta sẽ gặp được: “Phúc thay ai khao khát và đói khát sự công chính [sự công chính thật, tức tình yêu thật, tình yêu vị tha], vì họ sẽ được no thỏa.” Đó cũng là lý do có luyện ngục: để biến ta thành các thánh có khả năng chứa đựng nhiều niềm vui hơn.

Tình yêu của Thiên Chúa là công bằng: Người đáp lại tình yêu bằng tình yêu. Nơi Người hoàn toàn không có sự khác biệt giữa công bằng và tình yêu.

... Nhưng Thiên Chúa luôn thấy thấu lòng bạn, và luôn ban cho ta phần thưởng xứng hợp. Nếu điều ta khao khát là chính Người, và là chính điều Người là—tức tình yêu vị tha—thì ta sẽ nhận được điều đó. Nếu điều ta khao khát không phải là Thiên Chúa mà chỉ là chính mình, ta cũng sẽ nhận được điều ấy. Nếu ta quên mình trong tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân, ta sẽ tìm thấy chính mình và niềm vui của mình. Nhưng nếu ta quên Thiên Chúa và tìm cách tìm lại bản thân mình, ta sẽ chẳng tìm thấy cả hai. Bí mật của căn tính chúng ta nằm nơi Đấng Tạo Hóa và Thiết Kế chúng ta. Làm sao Hamlet có thể tìm thấy căn tính của mình ngoài Shakespeare?

Sự khác biệt giữa quên mình và quên Thiên Chúa chính là sự khác biệt giữa thiên đàng và hỏa ngục. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Người được cứu thoát thì nhiều hay ít? Hãy cộng một vào con số đó -- đó là bạn -- CN thứ XXI Mùa Thường niên năm C

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (13:22-30)

Khi ấy, trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Có kẻ hỏi Người: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không ?” Người bảo họ : “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.

“Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: ‘Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!’, thì ông sẽ bảo anh em : ‘Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến !’ 26 Bấy giờ anh em mới nói : ‘Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.’ Nhưng ông sẽ đáp lại : ‘Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!’

“Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

“Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.”

 

Các môn đệ có lẽ đã nghĩ thế này: “Chúng ta rất muốn biết cơ hội được lên thiên đàng của mình. Và nếu có ai biết, thì chính là Thầy Giêsu. Hãy hỏi Người ngay kẻo muộn. Biết đâu ta có thể lấy chút ‘thông tin nội bộ’ về tỷ lệ dân số thiên đàng và hỏa ngục. Nếu Người nói 90% được cứu, ta sẽ yên tâm. Nếu Người nói chỉ 10%, ta sẽ lo sợ. Còn nếu Người nói 50%, thì ta sẽ cần cố gắng một chút.”

Thế Đức Giêsu có trả lời câu hỏi đó không? Có phải Người nói rằng phần đông sẽ xuống hỏa ngục và chỉ một số ít lên thiên đàng không? Không. Tại sao vậy? Người có thêm chút thông tin nào về tỷ lệ người thiên đàng hay hoả ngục không? Cũng không. Thực ra, Người không hề trả lời câu hỏi của họ, mà lại chất vấn chính câu hỏi ấy. Người đảo ngược thế cờ, như Người vẫn thường làm khi bị chất vấn. Người nhận ra rằng vấn đề không nằm ở câu hỏi, mà ở chính người hỏi. Các môn đệ đang né tránh câu hỏi thực sự. Câu hỏi thực sự là câu mà người cai ngục thành Philípphê đã hỏi thánh Phaolô: “Tôi phải làm gì để được cứu?” (Cv 16,30). Còn họ lại hỏi một câu khác, một câu về người khác, về “số đông.”

Vậy khi Đức Giêsu nói rằng cửa hẹp và nhiều người muốn vào mà không vào được, Người không đưa ra “thống kê dân số,” vì Người không phải là nhà khoa học, Ngài yêu thương, là bạn hữu, là dung mạo đích thực của Chúa Cha. Khi một người cha mất một trong hai mươi đứa con trong tai nạn, thì một cũng đã là quá nhiều, còn mười chín đứa còn lại cũng là quá ít. Khi kể dụ ngôn con chiên lạc, Đức Giêsu cho thấy mục tử sẵn sàng bỏ lại 99 con chiên tốt để đi tìm 1 con lạc, vì 99 con được cứu là quá ít, và một con mất đi là quá nhiều.

Chúng ta thật sự không biết bao nhiêu người sẽ được cứu. Nhưng mỗi người có thể thay đổi con số đó thêm một, chính mình. Đó là điều Đức Giêsu muốn hướng sự chú ý đến khi nói: “Hãy chiến đấu.” Vì không phải tất cả sẽ được cứu. Có thiên đàng và cũng có hỏa ngục. Giáo huấn của Đức Giêsu về điểm này rất rõ ràng. Chủ trương “mọi người đều sẽ được cứu” (universalism) trái ngược hẳn với lời Người. Để được cứu độ đòi hỏi nỗ lực. Đức tin, cậy, mến đều cần nỗ lực, sự chọn lựa, và việc làm. Sự được cứu độ không là tự động. Bạn không được cấp vé lên thiên đàng chỉ vì bạn chào đời với một khuôn mặt dễ thương và cái nhãn “Made in Heaven” dán sau lưng.

Để nhấn mạnh rằng chúng ta không biết trước “thống kê dân số” đời sau, Đức Giêsu kết thúc bằng lời: “Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.” Ai ngờ được một tên trộm cả đời, có lẽ còn là kẻ sát nhân, lại được Đức Giêsu hứa cho ở cùng Người trên thiên đàng? Ai ngờ được một trong Nhóm Mười Hai lại nghe Đức Giêsu nói: “Thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24)? Người đang nói về Giuđa Ítcariốt, vị giám mục Công giáo đầu tiên… nhận tài trợ từ chính quyền.

Vậy nếu bạn tự hỏi người này người kia có được lên thiên đàng không, thì câu trả lời của Đức Giêsu là: “Lo chuyện của mình đi.” Hãy bước cho vững trên con đường chính là con đường của Người. Hãy nhìn lên, đừng nhìn ngang. Nhìn ngang dễ khiến ta ngã khỏi đường hẹp. Đừng đóng vai Thiên Chúa. Bạn không phải là thẩm phán. Hãy tạ ơn Chúa vì bạn không phải là thẩm phán, tôi cũng không, Jonathan Edwards cũng không là thầm phán, Oprah Winfrey cũng không. Điều quan trọng là bạn biết Đấng sẽ xét xử bạn. Bởi vì để được vào nơi ấy, cũng như một số nơi trần gian, điều quan trọng không phải là bạn biết gì mà là bạn quen ai.

Hậu bút: Khi Đức Giêsu nói với những người không được vào: “Ta không biết các ngươi từ đâu đến,” Người muốn nói: “Ta không thấy sự sống của Ta trong linh hồn các ngươi. Các ngươi chưa được tái sinh từ trời cao. Các ngươi chưa trở nên con nuôi của Cha trên trời. Các ngươi chỉ mới được sinh ra một lần, và thế là chưa đủ. Chỉ là con cái cha mẹ dưới đất thì chưa đủ; phải là con cái Cha trên trời nữa. Chỉ có sự sống tự nhiên thì chưa đủ để chịu đựng thiên đàng; cần có sự sống từ trời trong linh hồn. Nếu những gì trong linh hồn ngươi không đến từ trời, thì cũng không thể về trời. Chỉ là một quả trứng tốt thì không đủ. Quả trứng ấy phải nở ra để có cánh và rồi bay.

Thầy không đến để ban hoà bình, nhưng là đem sự chia rẽ: CN XX Mùa thường niên, năm C

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. (câu 51 của đoạn Luca 12:49-53)

Tin Mừng hôm nay thật gây sốc. Đức Giêsu, Hoàng Tử Bình An, lại nói rằng Ngài đến trần gian không phải để mang bình an, mà là đem sự chia rẽ và chiến tranh, thậm chí ngay trong gia đình. Một trong những điều Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ sau khi sống lại là Ngài để lại cho họ món quà bình an của Ngài. Bình an và chiến tranh là hai điều trái ngược. Làm sao Đức Giêsu lại là cội nguồn của cả hai thực tại ấy?

Lời giải thích cho sự mâu thuẫn bề ngoài này thật đơn giản: có hai loại bình an rất khác nhau, và chúng đối nghịch nhau. Có thứ bình an mà thế gian ban tặng, và chính Đức Giêsu đã nói rõ với các Tông Đồ rằng Ngài không đến để ban cho họ loại bình an đó. Vậy bình an mà thế gian ban là gì?

Ở mức tốt nhất, đó là thứ bình an chấm dứt chiến tranh – ít nhất là tạm thời – bằng một loại hiệp ước hay thỏa hiệp nào đó. Đó là loại bình an con người khi không tin theo tôn giáo nào vẫn mong muốn, vẫn làm việc để đạt được, và đôi khi đạt được.

Nguyên nhân phổ biến nhất của thứ bình an này là sức mạnh: chiến thắng trong một cuộc chiến và áp đặt hòa bình, như chúng ta từng làm trong mọi cuộc chiến mà mình thắng. Nhưng thứ bình an đó mong manh và tạm bợ, và quan trọng hơn cả là nó không phải là bình an của tâm trí, trái tim, và linh hồn. Nó chỉ là một sự yên ổn bên ngoài, mang tính thực dụng, sự ngừng bạo lực của bên ngoài, và phương tiện hiệu quả nhất của nó chính là bạo lực tỏ lộ ra bên ngoài của kẻ chiến thắng.

Loại bình an mà Đức Giêsu không đến để trao ban là sự hòa thuận với những kẻ thù thiêng liêng của chúng ta trong nội tâm mình: thế gian, xác thịt, và ma quỷ. Ngài đến để tuyên chiến với những kẻ thù này.

Vậy ba kẻ thù này là gì? “Thế gian” ở đây không phải là hành tinh trái đất – vì nó là công trình tốt lành của Thiên Chúa, và Ngài đã tuyên bố nó là tốt lành. Thế gian ở đây là nền văn hóa, nền văn minh con người tạo ra, trật tự thế giới mà ở đó phần thưởng dành cho sự khôn khéo và quyền lực chứ không phải nhân đức, và sự trừng phạt không nhắm vào tội lỗi mà nhắm vào sự không tuân theo các chuẩn mực của nó, kể cả sự không tuân theo về mặt tôn giáo.

Kitô giáo luôn luôn đi ngược dòng văn hóa ở những khía cạnh quan trọng, ngay cả trong một xã hội vốn tự nhận là Kitô giáo, và điều này lại càng đúng hôm nay, khi chúng ta sống trong một nền văn hóa không còn là Kitô giáo và ngày càng trở nên chống Kitô giáo, vì nó khuyến khích tham lam, dục vọng, và kiêu ngạo như những con đường dẫn tới thành công và hạnh phúc.

Chắc chắn đây không phải là một nền văn hóa có thể hiểu hay trân trọng những nhân đức của sự nghèo khó, nhất là sự nghèo khó thiêng liêng đòi hỏi tách mình khỏi của cải; hay đức khiết tịnh, vốn bị chế giễu; hay sự khiêm nhường, vốn bị nhầm lẫn với sự hèn hạ; hay sự hiền lành, vốn bị lẫn lộn với yếu đuối.

Kẻ thù thứ hai, “xác thịt”, không phải là thân xác – vốn là tạo vật của Thiên Chúa – mà là toàn bộ bản tính con người sa ngã, ích kỷ, và yếu đuối của chúng ta, cả linh hồn lẫn thân xác. Sự ích kỷ của chúng ta làm bại hoại mọi điều tốt lành, đặc biệt là những đam mê và ước muốn của chúng ta. Chúng ta yêu thích sự khoái lạc của mình hơn là yêu thương người khác, và không chỉ trong tình dục – tình dục chỉ là hình thức rõ rệt và mãnh liệt nhất.

Chúng ta dùng người khác để phục vụ hạnh phúc của mình, thay vì dùng bản thân để phục vụ hạnh phúc của họ. Dục vọng không phải là đam mê tình dục, mà là đam mê tình dục lệch lạc, ích kỷ, “tình dục theo ý tôi muốn.” Hãy nhớ câu nói nổi tiếng của John F. Kennedy: “Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn; hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước.” Bây giờ hãy thay từ trừu tượng “đất nước” bằng từ cụ thể “người lân cận” và đảo ngược nó, bạn sẽ hiểu ý nghĩa của “xác thịt” hay bản tính sa ngã. Bản tính đó khiến chúng ta không hỏi “Tôi có thể làm gì cho người lân cận?” mà hỏi “Người lân cận có thể làm gì cho tôi?”.

Kẻ thù thứ ba của chúng ta là ma quỷ, và điều duy nhất cần phải nói về nó là: ma quỷ là có thật (Đức Giêsu không bịa ra những kẻ thù tưởng tượng, cũng như Ngài không bịa ra những “người bạn tưởng tượng” như một đứa trẻ bốn tuổi), và nó còn đáng gờm hơn nhiều so với hình ảnh nhân vật hoạt hình với sừng, móng guốc, và da đỏ đen ghê gớm mà con người nghĩ ra.

Tham lam là tội đặc trưng mà thế gian cám dỗ chúng ta. Dục vọng là tội đặc trưng mà xác thịt cám dỗ chúng ta. Kiêu ngạo là tội đặc trưng mà ma quỷ cám dỗ chúng ta, và đó là tội nặng nhất vì nó mang tính thiêng liêng và hoàn toàn tự do – không phải là tội do yếu đuối.

Đức Giêsu đến để đem lại bình an với Thiên Chúa, chứ không phải với ma quỷ; với chính con người thật của chúng ta, chứ không phải với xác thịt yếu đuối; và với tha nhân, chứ không phải với trật tự thế gian vốn thường xúi giục chúng ta chống lại tha nhân.

Đức Giêsu đến để tuyên chiến với ma quỷ, vì ma quỷ đang tuyên chiến với Thiên Chúa. Ngài đến để tuyên chiến với xác thịt, vì xác thịt đang tuyên chiến với Thần Khí, Chúa Thánh Thần (không phải với linh hồn; linh hồn cũng là một phần của xác thịt). Và Ngài đến để tuyên chiến với thế gian, vì thế gian đang tuyên chiến với Hội Thánh, tức là sự hiệp thông của các thánh. Điều này rõ ràng đến mức trong mọi nền văn hóa, các thánh đều bị tử đạo – dù là đỏ rực, hay qua màu trắng đen, dù là bằng máu, hay bằng chữ nghĩa.

Đây là cuộc chiến duy nhất không cho phép thái độ “chủ hòa”. Đức Giêsu đã nói: “Ai không đi với Ta là chống lại Ta” (Mt 12,30). Nếu bạn từ chối chiến đấu chống lại những kẻ thù này, bạn chính là điều mà những kẻ thù gọi là “những kẻ ngu ngốc hữu dụng” mà họ có thể lợi dụng và điều khiển cho mục đích riêng của họ.

Chủ đề chiến tranh thiêng liêng xuất hiện gần như trên mọi trang của Kinh Thánh. Hội Thánh chưa bao giờ định tín về vấn đề “chủ hòa” trong chiến tranh vật chất. Hội Thánh chưa bao giờ chính thức chấp thuận hay phản đối. Nhưng Hội Thánh luôn dạy rằng kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là phàm nhân mà là “những quyền lực và thế lực gian ác ở chốn trời cao”—nói cách khác là ma quỷ, những thiên thần sa ngã, những thần dữ cám dỗ con người. Nếu chúng không có thật, thì không chỉ Hội Thánh mà cả chính Đức Giêsu Kitô cũng là kẻ nói dối hoặc kẻ dại khờ, vì Ngài đã dạy rõ ràng rằng chúng có thật. Ngài không chỉ dạy điều đó, mà còn trực tiếp chiến đấu với chúng: Ngài đã trừ quỷ nhiều lần. Rất ít người trong chúng ta thực sự bị quỷ ám và cần được trừ quỷ, nhưng tất cả chúng ta, kể cả chính Đức Kitô, đều bị chúng cám dỗ.

Vì đời sống là một cuộc chiến thiêng liêng, nên khí giới thiêng liêng quan trọng nhất của chúng ta là vâng phục vị Chỉ Huy Trưởng, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Khi bị cám dỗ, điều đầu tiên và quan trọng nhất là hãy quay ánh nhìn khỏi sự cám dỗ và khỏi chính bản thân mình, mà hướng về Chúa với lời “Xin cho ý Ngài được thực hiện.” Sẽ rất hữu ích nếu bạn làm dấu thánh giá như một nghi thức kính chào vị Chỉ Huy Trưởng của mình: dấu thánh giá nhắc nhở bạn thuộc về ai. Và đó cũng là một lời chứng mạnh mẽ cho thế gian biết bạn đang đứng về phía nào. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Mầu nhiệm các thánh thông công: Chúng ta không cô đơn

Thưa anh em, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. (Híp-ri 12:1-2)

Chương 11 của thư gửi tín hữu Do Thái là một bản tóm tắt về các anh hùng đức tin trong lịch sử Cựu Ước, khởi đầu với tổ phụ Ápraham. Đây giống như phiên bản “Hạnh Các Thánh” trong Công giáo trong Do thái giáo. Và giờ đây, sau câu chuyện đầy ấn tượng ấy, chúng ta được nói rằng câu chuyện ấy vẫn tiếp tục với chính chúng ta, rằng chúng ta đang ở trong cùng một câu chuyện, và rằng những anh hùng đã qua đời ấy thật ra không hề chết, mà đang sống và dõi theo chúng ta! Chúng ta đang được “bao quanh bởi đám mây nhân chứng lớn lao,” như những vận động viên thi đấu trên sân vận động, được hàng ngàn khán giả theo dõi và cổ vũ. Hãy tưởng tượng cảm giác của bạn sẽ thế nào nếu đang chạy một mình trên đường đua trong sân vận động, rồi bất ngờ thấy hàng ngàn khán giả trên khán đài reo hò cổ vũ bạn. Đó chính là cảm giác chúng ta nên có khi đọc câu Kinh Thánh này. Chúng ta không nhìn thấy họ, nhưng chúng ta đang được bao quanh bởi đám đông các nhân chứng đang dõi theo. Họ là các thánh, bao gồm cả tổ tiên trung tín của chúng ta. Cha mẹ và ông bà chúng ta đang ở hàng ghế đầu, tự hào về từng bước tốt lành chúng ta đi, và cầu nguyện cho chúng ta. Các thánh mà chúng ta cầu khẩn thực sự nghe lời chúng ta và thật sự cầu thay cho chúng ta. Đây không chỉ là một ý tưởng an ủi dễ thương, mà là một tín điều của đức tin Công giáo.

Sự hiệp thông của các thánh / Mầu nhiệm các thánh thông công là một trong mười hai điều khoản đức tin được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính Các Thánh Tông Đồ. Chúng ta đang tương tác không chỉ với những người đương thời, những người còn sống cùng chúng ta trên trần gian, mà còn với những người đã “qua đời” nhưng thực ra đang sống trên thiên đàng. Khi bạn lên thiên đàng, bạn có nghĩ rằng mình sẽ thôi quan tâm đến gia đình và bạn bè còn ở trần gian không? Và sự quan tâm đó chẳng phải cũng sẽ vượt ra ngoài phạm vi gia đình, bạn bè thân thiết, để đến với mọi người trong Thân Thể Đức Kitô sao?

Trong Chúa tể các chiếc nhẫn, hai người hobbit anh hùng là Frodo và Sam đang gánh vác nhiệm vụ nguy hiểm mang chiếc nhẫn đầy gian ác đi tiêu hủy, và họ suy ngẫm về các anh hùng trong lịch sử của mình – những người từng trải qua những cuộc hành trình đầy hiểm nguy tương tự – rồi họ nhận ra rằng mình đang sở hữu một báu vật từ thuở xa xưa: một lọ ánh sáng từ buổi bình minh của thời đại họ, ánh sáng soi đường và chống lại bóng tối.. Và bất chợt, họ nhận ra rằng mình đang ở trong cùng một câu chuyện với các bậc tiền nhân vĩ đại, rằng quá khứ không chết, rằng họ đang tiếp tục chuyến chạy tiếp sức của những anh hùng xưa. Thay vì nhìn lịch sử như một câu chuyện đã chết, chỉ còn để đọc trong sách, họ nhận ra rằng mình đang ở trong cuốn sách, đang sống trong câu chuyện ấy. Không còn ranh giới giữa câu chuyện của quá khứ và câu chuyện của hiện tại: đó chỉ là một câu chuyện duy nhất.

Hãy giả sử bạn bất ngờ nhìn thấy nhiều đôi mắt đang nhìn bạn qua khung cửa sổ căn phòng bạn đang ở. Điều đó có khiến bạn cảm thấy khác đi và hành động khác đi không? Chắc chắn là có. Và đôi mắt của đức tin có thể nhìn thấy những ánh mắt ấy. Chúng có thật. Chúng ta không cô đơn.

Vậy thì sao? Vậy thì hãy kiên trì, hãy chạy hết đường đua, đừng bỏ cuộc, đừng làm thất vọng người cha, người mẹ, ông, bà, người bạn quý mến, những người đang cổ vũ bạn từ thiên đàng như họ đã làm khi còn ở trần thế. Và đừng làm thất vọng Cha trên trời, Đấng cũng là Cha của bạn thật sự và trọn vẹn không kém gì những người cha trần thế. Hãy nhớ ai đang dõi theo bạn: tất cả những người từng biết bạn, cùng toàn thể thiên thần và các thánh, cũng như Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Thật là một khán giả hùng hậu! Bạn đang có sự vinh quang, danh dự, và tiếng tăm nơi đó còn hơn bất kỳ ai có thể có ở đời này. Đừng quên những ánh mắt ngoài cửa sổ, đừng quên những tiếng reo hò từ khán đài. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Phép rửa bằng Thánh Thần và bằng lửa -- Chúa Giêsu chịu phép rửa, Năm C

“Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, nhưng có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa." (Luca 3:16)

Bí tích Rửa tội luôn đi kèm với đức tin, luôn bao hàm đức tin, và luôn giả định có đức tin—hoặc là đức tin của người lớn muốn trở thành Công giáo đang được rửa tội, hoặc là đức tin của cha mẹ và Giáo Hội trong trường hợp rửa tội cho trẻ sơ sinh. Tin Mừng theo Thánh Gioan nói rằng khi chúng ta “tin” thì chúng ta “đón nhận” (xem Gioan 1:12–16). Khi chúng ta mở cửa, Thiên Chúa đến. Thiên Chúa đến thực sự, chứ không chỉ là biểu tượng.

Đây không chỉ là một lối sống mới, hoặc một bộ lý tưởng hay nguyên tắc mới; đây là một sự sống mới, một kiểu sống mới. Nó giống như Pinocchio biến từ một con rối gỗ thành một sinh vật sống, hoặc như con cóc biến thành hoàng tử khi công chúa hôn nó. Nhiều câu chuyện cổ tích được viết có biểu tượng Kitô giáo.

Câu chuyện về Pinocchio chính xác hơn câu chuyện hoàng tử cóc, vì khi con cóc được hôn, nó không còn là cóc nữa, nhưng khi Pinocchio trở nên sống động, cậu ta vẫn là một cái đầu làm bằng gỗ, và cậu ta chọn những người bạn sai lầm và học cách nói dối, khiến mũi cậu dài hơn sau mỗi lần nói dối. Đó chính là chúng ta.

Chúng ta có sự sống của Chúa, chúng ta có Chúa Thánh Thần trong chúng ta, nhưng chúng ta sống như những người không biết đến sự sống mới. Chúng ta có hai sự sống trong mình: tự nhiên và siêu nhiên, thuộc về con người và thuộc về Thiên Chúa, tạm thời và vĩnh cửu, xác thịt và thần khí. Thánh Phaolô gọi chúng là “con người cũ” và “con người mới” (Ê-phê-sô 4:22–24).

Con người cũ đến từ A-đam thứ nhất, con người mới đến từ Đức Kitô, A-đam mới. Đó là ý của Thánh Phaolô khi ngài nói rằng “xác thịt có những ham muốn chống lại Thần Khí, và Thần Khí chống lại xác thịt” (Ga-lát 5:17). Xác thịt và thần khí không có nghĩa là thân xác và linh hồn. Chúng có nghĩa là con người cũ, con người tội lỗi mà chúng ta nhận từ A-đam và con người mới được cứu chuộc mà chúng ta lãnh nhận từ Đức Kitô.

…Không giống như lửa vật chất, lửa của Thánh Thần chỉ đốt cháy những điều xấu. Càng đến gần ngọn lửa thông thường, bạn càng bị hủy hoại, nhưng càng đến gần ngọn lửa thánh thiêng liêng, bạn càng sống mãnh liệt hơn. Ngọn lửa này càng làm bạn cảm thấy bị đốt cháy bạn khi bạn càng xa rời nó.

Lửa là biểu tượng tự nhiên cho đam mê và cường độ. “Thiên Chúa chúng ta là ngọn lửa thiêu,” thư gửi người Do Thái nói (Híp-ri 12:29). Thiên Chúa không phải là một ông già ngủ gật; Ngài là một người Cha yêu thương và do đó Ngài có quyền đòi hỏi. Ngài dễ được chúng ta làm hài lòng nhưng khó thỏa mãn. Chúng ta không thoải mái khi gặp Ngài; đối với chúng ta Ngài không là người chán ngắt, không nửa nóng nữa lạnh. Ngài là ngọn núi lửa của tình yêu. Ngài không yêu rồi lại hết yêu như chúng ta, vì Ngài là tình yêu. Thiên Chúa không thể yêu đậm sâu hơn nữa cũng như mặt trời không thể sáng hơn hay biển không thể ướt hơn.

Càng để ngọn lửa này cháy trong tâm hồn mình, để nó thiêu đốt mọi sự ích kỷ tìm thoải mái của mình, cuộc sống của bạn sẽ càng được biến đổi. Hãy hỏi bất kỳ vị thánh nào.

Tình yêu là ngọn lửa sống động. So với những ham muốn của chúng ta, tình yêu Thiên Chúa mãnh liệt hơn rất nhiều. Tình yêu của Chúa đối với những ham muốn của con người thì  như mặt trời đối với que diêm. Nó giống như ánh sáng laser cắt xuyên qua thép cứng nhất. Bất cứ khi nào bạn cầu nguyện, bạn đang chịu phẫu thuật laser trên linh hồn mình. Cầu nguyện là phòng mổ của Chúa. Ngài đang chờ sự đồng ý của bạn để thực hiện ca mổ. Và bạn có thể tin tưởng bác sĩ này vì đôi tay cầm dao mổ có lỗ đinh trên đó. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Dành một giờ mỗi tuần để tạ ơn -- CN thứ XXVIII Mùa Thường niên, năm C

Tất cả mười người phong được chữa lành, nhưng chỉ có một người — người Samari — quay lại cảm tạ Đức Giêsu. “Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn.” — đó gần như là một hành vi thờ phượng. Chúng ta thấy trong cả bài Tin Mừng lẫn bài đọc thứ nhất, đều có những người ngoại bang (Ông Na-a-man người Syria và người Samari) được chữa khỏi bệnh phong, và phản ứng của họ là lòng biết ơn được thể hiện qua việc thờ phượng.

Những bài đọc này dẫn chúng ta đến chỗ hiểu rằng thờ phượng chính là cách biểu lộ lòng biết ơn. Điều này đặc biệt đúng với trung tâm của việc thờ phượng Công giáo — phụng vụ Thánh Thể — vì “Eucharistia” xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tạ ơn”. Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta nhận ra rằng chúng ta — phần lớn đều là những người ngoại bang — đã được chữa khỏi căn bệnh phong cùi thiêng liêng nơi linh hồn mình nhờ được tắm gội trong dòng nước khiêm tốn của bí tích Rửa Tội. Sau khi đã được chữa lành, phản ứng xứng đáng nhất của chúng ta là lòng biết ơn sâu sắc, được thể hiện qua việc thờ phượng.

Đời sống Kitô hữu dĩ nhiên không chỉ giới hạn trong việc tham dự Thánh lễ Chúa nhật. Tuy nhiên, chắc chắn đời sống ấy phải bao gồm việc tham dự Thánh lễ Chúa nhật, vì nhiều lý do. Một trong những lý do đó là: Thánh lễ là biểu hiện cao nhất của lòng biết ơn và tạ ơn đối với những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong cuộc đời chúng ta.

Ngay cả khi không có mạc khải thần linh, không có Kinh Thánh, con người vẫn có thể (1) dùng lý trí để nhận ra rằng Thiên Chúa hiện hữu, và (2) nhận biết rằng về mặt luân lý, con người có bổn phận phải thờ phượng Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa là một bổn phận luân lý cơ bản, hiển nhiên đối với lý trí được sử dụng đúng đắn. Và nếu không có tôn giáo mặc khải, con người vẫn có nghĩa vụ luân lý phải đưa ra những nghi thức nào đó để bày tỏ lòng biết ơn đối với Đấng đã dựng nên mình.

Huống hồ là khi Đấng ấy đã tỏ mình ra cho chúng ta, đã trở nên một người trong chúng ta, đã chịu chết vì tình yêu dành cho chúng ta, và đã sống lại để chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến sự sống! Và trước tất cả những điều đó, mà chúng ta không thể dành nổi một giờ mỗi tuần để cảm tạ Ngài sao? -- Dr. John Bergsma, The Word of the Lord: Reflections on the Sunday Mass Readings for Year C