Khiêm nhường để quên mình trong tình yêu: Chúa Nhật thứ XXII Mùa Thường niên, năm C

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (14:1;7-14)

Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa : họ cố dò xét Người.

Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”

Rồi Đức Giê-su nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.”

-------------

Có phải Chúa Giêsu có đang đưa ra một lời khuyên về cách leo cầu thang danh vọng trong xã hội không? Đây là lời khuyên hay, nhưng tại sao Người lại làm như vậy? Tại sao Người lại khuyến khích sự leo cao trong xã hội? Đó là một hình thức của tính ích kỷ tự cao, mà Chúa Giêsu thì không đề cao cái tôi—Người đề cao sự khiêm nhường.

... Người Pharisêu đã mời Chúa có lẽ là một kẻ đầy kiêu ngạo và tự cao, một kẻ duy luật, giống như người Pharisêu trong dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện. Vậy Chúa Giêsu đang làm gì ở đây? Người hạ mình xuống tận mức của người Pharisêu ấy và chỉ ra rằng ngay cả trên cái mức thấp kém, vị kỷ, toan tính và ích kỷ đó, thì sự khiêm nhường vẫn nâng con người lên, còn kiêu ngạo thì dẫn đến sụp đổ.

Vậy thực sự có bốn cấp độ khôn ngoan trong câu chuyện này.

  • Thấp nhất là người Pharisêu ngu dại, kẻ tự cao phô bày lòng mình bằng cách chọn chỗ cao nhất.
  • Kế đến là người Pharisêu khôn khéo, toan tính, cũng đầy tự cao, nhưng che giấu lòng mình, giả vờ khiêm nhường chỉ để được phần thưởng lớn hơn và chỗ cao hơn ở đời này.
  • Thứ ba là người Pharisêu còn khôn khéo và toan tính hơn, cũng giả vờ khiêm nhường, nhưng không phải để được thưởng ở đời này, mà để được thưởng ở đời sau. Điều đó tốt hơn nhưng chưa phải tốt nhất; khôn ngoan hơn nhưng chưa phải khôn ngoan nhất.

- Cấp độ thấp nhất là làm điều sai (ích kỷ) vì lý do sai (ích kỷ).
- Cấp độ hai là làm điều đúng (vị tha) nhưng vì lý do sai (ích kỷ).
- Cấp độ ba cũng là làm điều đúng vì lý do sai, nhưng ở đây cái lý do sai là ích kỷ, không phải trong đời này mà trong đời sau.
- Và cấp độ bốn là làm điều đúng vì lý do đúng.

Thiên Chúa hiểu chúng ta đang ở đâu và muốn đưa tất cả chúng ta tiến lên, thường là từng bước một. Người muốn đưa ta đến mức cao nhất, vì Người thật sự yêu thương ta và muốn ta hưởng niềm vui cao cả nhất, vốn chỉ có trên mức cao nhất đó. Nếu đó là điều ta thực sự tìm kiếm, Người hứa rằng ta sẽ gặp được: “Phúc thay ai khao khát và đói khát sự công chính [sự công chính thật, tức tình yêu thật, tình yêu vị tha], vì họ sẽ được no thỏa.” Đó cũng là lý do có luyện ngục: để biến ta thành các thánh có khả năng chứa đựng nhiều niềm vui hơn.

Tình yêu của Thiên Chúa là công bằng: Người đáp lại tình yêu bằng tình yêu. Nơi Người hoàn toàn không có sự khác biệt giữa công bằng và tình yêu.

... Nhưng Thiên Chúa luôn thấy thấu lòng bạn, và luôn ban cho ta phần thưởng xứng hợp. Nếu điều ta khao khát là chính Người, và là chính điều Người là—tức tình yêu vị tha—thì ta sẽ nhận được điều đó. Nếu điều ta khao khát không phải là Thiên Chúa mà chỉ là chính mình, ta cũng sẽ nhận được điều ấy. Nếu ta quên mình trong tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân, ta sẽ tìm thấy chính mình và niềm vui của mình. Nhưng nếu ta quên Thiên Chúa và tìm cách tìm lại bản thân mình, ta sẽ chẳng tìm thấy cả hai. Bí mật của căn tính chúng ta nằm nơi Đấng Tạo Hóa và Thiết Kế chúng ta. Làm sao Hamlet có thể tìm thấy căn tính của mình ngoài Shakespeare?

Sự khác biệt giữa quên mình và quên Thiên Chúa chính là sự khác biệt giữa thiên đàng và hỏa ngục. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Người được cứu thoát thì nhiều hay ít? Hãy cộng một vào con số đó -- đó là bạn -- CN thứ XXI Mùa Thường niên năm C

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca (13:22-30)

Khi ấy, trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Có kẻ hỏi Người: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không ?” Người bảo họ : “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.

“Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: ‘Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!’, thì ông sẽ bảo anh em : ‘Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến !’ 26 Bấy giờ anh em mới nói : ‘Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.’ Nhưng ông sẽ đáp lại : ‘Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!’

“Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.

“Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.”

 

Các môn đệ có lẽ đã nghĩ thế này: “Chúng ta rất muốn biết cơ hội được lên thiên đàng của mình. Và nếu có ai biết, thì chính là Thầy Giêsu. Hãy hỏi Người ngay kẻo muộn. Biết đâu ta có thể lấy chút ‘thông tin nội bộ’ về tỷ lệ dân số thiên đàng và hỏa ngục. Nếu Người nói 90% được cứu, ta sẽ yên tâm. Nếu Người nói chỉ 10%, ta sẽ lo sợ. Còn nếu Người nói 50%, thì ta sẽ cần cố gắng một chút.”

Thế Đức Giêsu có trả lời câu hỏi đó không? Có phải Người nói rằng phần đông sẽ xuống hỏa ngục và chỉ một số ít lên thiên đàng không? Không. Tại sao vậy? Người có thêm chút thông tin nào về tỷ lệ người thiên đàng hay hoả ngục không? Cũng không. Thực ra, Người không hề trả lời câu hỏi của họ, mà lại chất vấn chính câu hỏi ấy. Người đảo ngược thế cờ, như Người vẫn thường làm khi bị chất vấn. Người nhận ra rằng vấn đề không nằm ở câu hỏi, mà ở chính người hỏi. Các môn đệ đang né tránh câu hỏi thực sự. Câu hỏi thực sự là câu mà người cai ngục thành Philípphê đã hỏi thánh Phaolô: “Tôi phải làm gì để được cứu?” (Cv 16,30). Còn họ lại hỏi một câu khác, một câu về người khác, về “số đông.”

Vậy khi Đức Giêsu nói rằng cửa hẹp và nhiều người muốn vào mà không vào được, Người không đưa ra “thống kê dân số,” vì Người không phải là nhà khoa học, Ngài yêu thương, là bạn hữu, là dung mạo đích thực của Chúa Cha. Khi một người cha mất một trong hai mươi đứa con trong tai nạn, thì một cũng đã là quá nhiều, còn mười chín đứa còn lại cũng là quá ít. Khi kể dụ ngôn con chiên lạc, Đức Giêsu cho thấy mục tử sẵn sàng bỏ lại 99 con chiên tốt để đi tìm 1 con lạc, vì 99 con được cứu là quá ít, và một con mất đi là quá nhiều.

Chúng ta thật sự không biết bao nhiêu người sẽ được cứu. Nhưng mỗi người có thể thay đổi con số đó thêm một, chính mình. Đó là điều Đức Giêsu muốn hướng sự chú ý đến khi nói: “Hãy chiến đấu.” Vì không phải tất cả sẽ được cứu. Có thiên đàng và cũng có hỏa ngục. Giáo huấn của Đức Giêsu về điểm này rất rõ ràng. Chủ trương “mọi người đều sẽ được cứu” (universalism) trái ngược hẳn với lời Người. Để được cứu độ đòi hỏi nỗ lực. Đức tin, cậy, mến đều cần nỗ lực, sự chọn lựa, và việc làm. Sự được cứu độ không là tự động. Bạn không được cấp vé lên thiên đàng chỉ vì bạn chào đời với một khuôn mặt dễ thương và cái nhãn “Made in Heaven” dán sau lưng.

Để nhấn mạnh rằng chúng ta không biết trước “thống kê dân số” đời sau, Đức Giêsu kết thúc bằng lời: “Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.” Ai ngờ được một tên trộm cả đời, có lẽ còn là kẻ sát nhân, lại được Đức Giêsu hứa cho ở cùng Người trên thiên đàng? Ai ngờ được một trong Nhóm Mười Hai lại nghe Đức Giêsu nói: “Thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24)? Người đang nói về Giuđa Ítcariốt, vị giám mục Công giáo đầu tiên… nhận tài trợ từ chính quyền.

Vậy nếu bạn tự hỏi người này người kia có được lên thiên đàng không, thì câu trả lời của Đức Giêsu là: “Lo chuyện của mình đi.” Hãy bước cho vững trên con đường chính là con đường của Người. Hãy nhìn lên, đừng nhìn ngang. Nhìn ngang dễ khiến ta ngã khỏi đường hẹp. Đừng đóng vai Thiên Chúa. Bạn không phải là thẩm phán. Hãy tạ ơn Chúa vì bạn không phải là thẩm phán, tôi cũng không, Jonathan Edwards cũng không là thầm phán, Oprah Winfrey cũng không. Điều quan trọng là bạn biết Đấng sẽ xét xử bạn. Bởi vì để được vào nơi ấy, cũng như một số nơi trần gian, điều quan trọng không phải là bạn biết gì mà là bạn quen ai.

Hậu bút: Khi Đức Giêsu nói với những người không được vào: “Ta không biết các ngươi từ đâu đến,” Người muốn nói: “Ta không thấy sự sống của Ta trong linh hồn các ngươi. Các ngươi chưa được tái sinh từ trời cao. Các ngươi chưa trở nên con nuôi của Cha trên trời. Các ngươi chỉ mới được sinh ra một lần, và thế là chưa đủ. Chỉ là con cái cha mẹ dưới đất thì chưa đủ; phải là con cái Cha trên trời nữa. Chỉ có sự sống tự nhiên thì chưa đủ để chịu đựng thiên đàng; cần có sự sống từ trời trong linh hồn. Nếu những gì trong linh hồn ngươi không đến từ trời, thì cũng không thể về trời. Chỉ là một quả trứng tốt thì không đủ. Quả trứng ấy phải nở ra để có cánh và rồi bay.

Thầy không đến để ban hoà bình, nhưng là đem sự chia rẽ: CN XX Mùa thường niên, năm C

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. (câu 51 của đoạn Luca 12:49-53)

Tin Mừng hôm nay thật gây sốc. Đức Giêsu, Hoàng Tử Bình An, lại nói rằng Ngài đến trần gian không phải để mang bình an, mà là đem sự chia rẽ và chiến tranh, thậm chí ngay trong gia đình. Một trong những điều Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ sau khi sống lại là Ngài để lại cho họ món quà bình an của Ngài. Bình an và chiến tranh là hai điều trái ngược. Làm sao Đức Giêsu lại là cội nguồn của cả hai thực tại ấy?

Lời giải thích cho sự mâu thuẫn bề ngoài này thật đơn giản: có hai loại bình an rất khác nhau, và chúng đối nghịch nhau. Có thứ bình an mà thế gian ban tặng, và chính Đức Giêsu đã nói rõ với các Tông Đồ rằng Ngài không đến để ban cho họ loại bình an đó. Vậy bình an mà thế gian ban là gì?

Ở mức tốt nhất, đó là thứ bình an chấm dứt chiến tranh – ít nhất là tạm thời – bằng một loại hiệp ước hay thỏa hiệp nào đó. Đó là loại bình an con người khi không tin theo tôn giáo nào vẫn mong muốn, vẫn làm việc để đạt được, và đôi khi đạt được.

Nguyên nhân phổ biến nhất của thứ bình an này là sức mạnh: chiến thắng trong một cuộc chiến và áp đặt hòa bình, như chúng ta từng làm trong mọi cuộc chiến mà mình thắng. Nhưng thứ bình an đó mong manh và tạm bợ, và quan trọng hơn cả là nó không phải là bình an của tâm trí, trái tim, và linh hồn. Nó chỉ là một sự yên ổn bên ngoài, mang tính thực dụng, sự ngừng bạo lực của bên ngoài, và phương tiện hiệu quả nhất của nó chính là bạo lực tỏ lộ ra bên ngoài của kẻ chiến thắng.

Loại bình an mà Đức Giêsu không đến để trao ban là sự hòa thuận với những kẻ thù thiêng liêng của chúng ta trong nội tâm mình: thế gian, xác thịt, và ma quỷ. Ngài đến để tuyên chiến với những kẻ thù này.

Vậy ba kẻ thù này là gì? “Thế gian” ở đây không phải là hành tinh trái đất – vì nó là công trình tốt lành của Thiên Chúa, và Ngài đã tuyên bố nó là tốt lành. Thế gian ở đây là nền văn hóa, nền văn minh con người tạo ra, trật tự thế giới mà ở đó phần thưởng dành cho sự khôn khéo và quyền lực chứ không phải nhân đức, và sự trừng phạt không nhắm vào tội lỗi mà nhắm vào sự không tuân theo các chuẩn mực của nó, kể cả sự không tuân theo về mặt tôn giáo.

Kitô giáo luôn luôn đi ngược dòng văn hóa ở những khía cạnh quan trọng, ngay cả trong một xã hội vốn tự nhận là Kitô giáo, và điều này lại càng đúng hôm nay, khi chúng ta sống trong một nền văn hóa không còn là Kitô giáo và ngày càng trở nên chống Kitô giáo, vì nó khuyến khích tham lam, dục vọng, và kiêu ngạo như những con đường dẫn tới thành công và hạnh phúc.

Chắc chắn đây không phải là một nền văn hóa có thể hiểu hay trân trọng những nhân đức của sự nghèo khó, nhất là sự nghèo khó thiêng liêng đòi hỏi tách mình khỏi của cải; hay đức khiết tịnh, vốn bị chế giễu; hay sự khiêm nhường, vốn bị nhầm lẫn với sự hèn hạ; hay sự hiền lành, vốn bị lẫn lộn với yếu đuối.

Kẻ thù thứ hai, “xác thịt”, không phải là thân xác – vốn là tạo vật của Thiên Chúa – mà là toàn bộ bản tính con người sa ngã, ích kỷ, và yếu đuối của chúng ta, cả linh hồn lẫn thân xác. Sự ích kỷ của chúng ta làm bại hoại mọi điều tốt lành, đặc biệt là những đam mê và ước muốn của chúng ta. Chúng ta yêu thích sự khoái lạc của mình hơn là yêu thương người khác, và không chỉ trong tình dục – tình dục chỉ là hình thức rõ rệt và mãnh liệt nhất.

Chúng ta dùng người khác để phục vụ hạnh phúc của mình, thay vì dùng bản thân để phục vụ hạnh phúc của họ. Dục vọng không phải là đam mê tình dục, mà là đam mê tình dục lệch lạc, ích kỷ, “tình dục theo ý tôi muốn.” Hãy nhớ câu nói nổi tiếng của John F. Kennedy: “Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn; hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước.” Bây giờ hãy thay từ trừu tượng “đất nước” bằng từ cụ thể “người lân cận” và đảo ngược nó, bạn sẽ hiểu ý nghĩa của “xác thịt” hay bản tính sa ngã. Bản tính đó khiến chúng ta không hỏi “Tôi có thể làm gì cho người lân cận?” mà hỏi “Người lân cận có thể làm gì cho tôi?”.

Kẻ thù thứ ba của chúng ta là ma quỷ, và điều duy nhất cần phải nói về nó là: ma quỷ là có thật (Đức Giêsu không bịa ra những kẻ thù tưởng tượng, cũng như Ngài không bịa ra những “người bạn tưởng tượng” như một đứa trẻ bốn tuổi), và nó còn đáng gờm hơn nhiều so với hình ảnh nhân vật hoạt hình với sừng, móng guốc, và da đỏ đen ghê gớm mà con người nghĩ ra.

Tham lam là tội đặc trưng mà thế gian cám dỗ chúng ta. Dục vọng là tội đặc trưng mà xác thịt cám dỗ chúng ta. Kiêu ngạo là tội đặc trưng mà ma quỷ cám dỗ chúng ta, và đó là tội nặng nhất vì nó mang tính thiêng liêng và hoàn toàn tự do – không phải là tội do yếu đuối.

Đức Giêsu đến để đem lại bình an với Thiên Chúa, chứ không phải với ma quỷ; với chính con người thật của chúng ta, chứ không phải với xác thịt yếu đuối; và với tha nhân, chứ không phải với trật tự thế gian vốn thường xúi giục chúng ta chống lại tha nhân.

Đức Giêsu đến để tuyên chiến với ma quỷ, vì ma quỷ đang tuyên chiến với Thiên Chúa. Ngài đến để tuyên chiến với xác thịt, vì xác thịt đang tuyên chiến với Thần Khí, Chúa Thánh Thần (không phải với linh hồn; linh hồn cũng là một phần của xác thịt). Và Ngài đến để tuyên chiến với thế gian, vì thế gian đang tuyên chiến với Hội Thánh, tức là sự hiệp thông của các thánh. Điều này rõ ràng đến mức trong mọi nền văn hóa, các thánh đều bị tử đạo – dù là đỏ rực, hay qua màu trắng đen, dù là bằng máu, hay bằng chữ nghĩa.

Đây là cuộc chiến duy nhất không cho phép thái độ “chủ hòa”. Đức Giêsu đã nói: “Ai không đi với Ta là chống lại Ta” (Mt 12,30). Nếu bạn từ chối chiến đấu chống lại những kẻ thù này, bạn chính là điều mà những kẻ thù gọi là “những kẻ ngu ngốc hữu dụng” mà họ có thể lợi dụng và điều khiển cho mục đích riêng của họ.

Chủ đề chiến tranh thiêng liêng xuất hiện gần như trên mọi trang của Kinh Thánh. Hội Thánh chưa bao giờ định tín về vấn đề “chủ hòa” trong chiến tranh vật chất. Hội Thánh chưa bao giờ chính thức chấp thuận hay phản đối. Nhưng Hội Thánh luôn dạy rằng kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là phàm nhân mà là “những quyền lực và thế lực gian ác ở chốn trời cao”—nói cách khác là ma quỷ, những thiên thần sa ngã, những thần dữ cám dỗ con người. Nếu chúng không có thật, thì không chỉ Hội Thánh mà cả chính Đức Giêsu Kitô cũng là kẻ nói dối hoặc kẻ dại khờ, vì Ngài đã dạy rõ ràng rằng chúng có thật. Ngài không chỉ dạy điều đó, mà còn trực tiếp chiến đấu với chúng: Ngài đã trừ quỷ nhiều lần. Rất ít người trong chúng ta thực sự bị quỷ ám và cần được trừ quỷ, nhưng tất cả chúng ta, kể cả chính Đức Kitô, đều bị chúng cám dỗ.

Vì đời sống là một cuộc chiến thiêng liêng, nên khí giới thiêng liêng quan trọng nhất của chúng ta là vâng phục vị Chỉ Huy Trưởng, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Khi bị cám dỗ, điều đầu tiên và quan trọng nhất là hãy quay ánh nhìn khỏi sự cám dỗ và khỏi chính bản thân mình, mà hướng về Chúa với lời “Xin cho ý Ngài được thực hiện.” Sẽ rất hữu ích nếu bạn làm dấu thánh giá như một nghi thức kính chào vị Chỉ Huy Trưởng của mình: dấu thánh giá nhắc nhở bạn thuộc về ai. Và đó cũng là một lời chứng mạnh mẽ cho thế gian biết bạn đang đứng về phía nào. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)

Mầu nhiệm các thánh thông công: Chúng ta không cô đơn

Thưa anh em, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. (Híp-ri 12:1-2)

Chương 11 của thư gửi tín hữu Do Thái là một bản tóm tắt về các anh hùng đức tin trong lịch sử Cựu Ước, khởi đầu với tổ phụ Ápraham. Đây giống như phiên bản “Hạnh Các Thánh” trong Công giáo trong Do thái giáo. Và giờ đây, sau câu chuyện đầy ấn tượng ấy, chúng ta được nói rằng câu chuyện ấy vẫn tiếp tục với chính chúng ta, rằng chúng ta đang ở trong cùng một câu chuyện, và rằng những anh hùng đã qua đời ấy thật ra không hề chết, mà đang sống và dõi theo chúng ta! Chúng ta đang được “bao quanh bởi đám mây nhân chứng lớn lao,” như những vận động viên thi đấu trên sân vận động, được hàng ngàn khán giả theo dõi và cổ vũ. Hãy tưởng tượng cảm giác của bạn sẽ thế nào nếu đang chạy một mình trên đường đua trong sân vận động, rồi bất ngờ thấy hàng ngàn khán giả trên khán đài reo hò cổ vũ bạn. Đó chính là cảm giác chúng ta nên có khi đọc câu Kinh Thánh này. Chúng ta không nhìn thấy họ, nhưng chúng ta đang được bao quanh bởi đám đông các nhân chứng đang dõi theo. Họ là các thánh, bao gồm cả tổ tiên trung tín của chúng ta. Cha mẹ và ông bà chúng ta đang ở hàng ghế đầu, tự hào về từng bước tốt lành chúng ta đi, và cầu nguyện cho chúng ta. Các thánh mà chúng ta cầu khẩn thực sự nghe lời chúng ta và thật sự cầu thay cho chúng ta. Đây không chỉ là một ý tưởng an ủi dễ thương, mà là một tín điều của đức tin Công giáo.

Sự hiệp thông của các thánh / Mầu nhiệm các thánh thông công là một trong mười hai điều khoản đức tin được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính Các Thánh Tông Đồ. Chúng ta đang tương tác không chỉ với những người đương thời, những người còn sống cùng chúng ta trên trần gian, mà còn với những người đã “qua đời” nhưng thực ra đang sống trên thiên đàng. Khi bạn lên thiên đàng, bạn có nghĩ rằng mình sẽ thôi quan tâm đến gia đình và bạn bè còn ở trần gian không? Và sự quan tâm đó chẳng phải cũng sẽ vượt ra ngoài phạm vi gia đình, bạn bè thân thiết, để đến với mọi người trong Thân Thể Đức Kitô sao?

Trong Chúa tể các chiếc nhẫn, hai người hobbit anh hùng là Frodo và Sam đang gánh vác nhiệm vụ nguy hiểm mang chiếc nhẫn đầy gian ác đi tiêu hủy, và họ suy ngẫm về các anh hùng trong lịch sử của mình – những người từng trải qua những cuộc hành trình đầy hiểm nguy tương tự – rồi họ nhận ra rằng mình đang sở hữu một báu vật từ thuở xa xưa: một lọ ánh sáng từ buổi bình minh của thời đại họ, ánh sáng soi đường và chống lại bóng tối.. Và bất chợt, họ nhận ra rằng mình đang ở trong cùng một câu chuyện với các bậc tiền nhân vĩ đại, rằng quá khứ không chết, rằng họ đang tiếp tục chuyến chạy tiếp sức của những anh hùng xưa. Thay vì nhìn lịch sử như một câu chuyện đã chết, chỉ còn để đọc trong sách, họ nhận ra rằng mình đang ở trong cuốn sách, đang sống trong câu chuyện ấy. Không còn ranh giới giữa câu chuyện của quá khứ và câu chuyện của hiện tại: đó chỉ là một câu chuyện duy nhất.

Hãy giả sử bạn bất ngờ nhìn thấy nhiều đôi mắt đang nhìn bạn qua khung cửa sổ căn phòng bạn đang ở. Điều đó có khiến bạn cảm thấy khác đi và hành động khác đi không? Chắc chắn là có. Và đôi mắt của đức tin có thể nhìn thấy những ánh mắt ấy. Chúng có thật. Chúng ta không cô đơn.

Vậy thì sao? Vậy thì hãy kiên trì, hãy chạy hết đường đua, đừng bỏ cuộc, đừng làm thất vọng người cha, người mẹ, ông, bà, người bạn quý mến, những người đang cổ vũ bạn từ thiên đàng như họ đã làm khi còn ở trần thế. Và đừng làm thất vọng Cha trên trời, Đấng cũng là Cha của bạn thật sự và trọn vẹn không kém gì những người cha trần thế. Hãy nhớ ai đang dõi theo bạn: tất cả những người từng biết bạn, cùng toàn thể thiên thần và các thánh, cũng như Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Thật là một khán giả hùng hậu! Bạn đang có sự vinh quang, danh dự, và tiếng tăm nơi đó còn hơn bất kỳ ai có thể có ở đời này. Đừng quên những ánh mắt ngoài cửa sổ, đừng quên những tiếng reo hò từ khán đài. -- Dr. Peter Kreeft, Food for the Soul: Reflections on the Mass Readings (Cycle C)